Nên, UBCK vẫn giữ "room" sở hữu 49% của NĐT nước ngoài đối với công ty đại chúng và chỉ cho phép một số công ty niêm yết được phép nâng tỷ lệ sở hữu lên mức tối đa 60% tổng số các cổ phiếu có quyền biểu quyết và chỉ ứng dụng cho các NĐT chiến lược nước ngoài
Nhằm vực dậy thị trường chứng khoán (TTCK) mấy năm nay "loanh quanh" ở mức thấp, không có động lực để bứt phá, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) cũng đang tìm cách cuộn vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK bằng cách nới "room" tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài.
Tuy nhiên, giờ vẫn không rõ các tiêu chí nào để xem xét cho phép nâng tỷ lệ sở hữu này. Theo Thùy Linh Thời báo kinh dinh. Dự thảo sửa đổi Quyết định 55 quy định về NĐT nước ngoài, bao gồm cả tổ chức thành lập và hoạt động theo luật pháp nước ngoài và chi nhánh của tổ chức đó, tổ chức, quỹ đóng, quỹ thành viên, công ty đầu tư chứng khoán thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%.
VBF khẳng định cơ chế phát hành NVDR khá đơn giản, không đề nghị phải sửa đổi nhiều luật liên tưởng. Room 49% bây chừ đang trở nên không quyến rũ đối với các NĐT nước ngoài, bởi khi tham dự TTCK Việt Nam với tỷ lệ cao, NĐT nước ngoài luôn có chiến lược đầu tư và đồng thời với việc đầu tư vốn vào TTCK, họ còn muốn "dấn" sâu vào nền kinh tế với việc tham dự vào quản trị các doanh nghiệp (DN) nắm giữ cổ phần để mong có lợi nhuận cao hơn, kiểm soát tốt hơn dòng tiền đầu tư.
UBCK lại không dùng công cụ NVDR nhưng mà đề nghị cho phép DN phát hành một loại cổ phiếu mới gọi là cổ phiếu không có quyền biểu quyết.
Hơn nữa, việc cho phép giao dịch cổ phiếu này đặt ra vấn đề có khả năng phải thành lập một sàn giao du riêng cho loại cổ phần này vì tính đặc thù của nó. Chứng dẫn trên đây cho thấy TTCK Việt Nam vẫn cần phải nối đợi những "đòn bẩy" chính sách mạnh hơn nữa thì mới có thời cơ "cất cánh" được khỏi mặt đất.
Tuy nhiên, NĐT như thế nào thì được coi là NĐT chiến lược nước ngoài thì cũng chưa có quy định. Song theo quy định của Luật Chứng khoán, đây lại là vấn đề do Thủ tướng Chính phủ quyết định (Quyết định 55/2009/QĐ-TTg).
Tìm "đòn bẩy" VBF đã kiến nghị giải pháp phát hành chứng nhận không hưởng quyền biểu quyết (NVDR) cho NĐT nước ngoài như một số nước đã làm là giải pháp hữu hiệu và có tác động khá toàn diện đối với việc nâng cao tính hiệu quả của TTCK. Không chỉ không có tác dụng trong việc vấn vốn đầu tư nước ngoài mà quy định này còn ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách trong các đợt IPO hay thoái vốn Nhà nước tại các DN quốc gia.
UBCK đang kiến nghị sửa quy định tỷ lệ sở hữu trong Quyết định này, tuy nhiên sửa như thế nà hợp lý cho phù hợp với tình hình bây giờ là vấn đề cần được cân nhắc. Việc nâng tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài hình như đang gặp phải sự e ngại của các nhà quản lý Việt Nam về việc mở cửa hơn nữa cho các NĐT nước ngoài, sợ rằng nếu cho phép mở "room" thì các NĐT nước ngoài sẽ "nuốt trọn" các DN Việt Nam và trở nên DN 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Hơn nữa, việc ưng phải do Thủ tướng quyết định từng trường hợp.
Dẫn chứng trên đây cho thấy TTCK Việt Nam vẫn cần phải tiếp kiến đợi những "đòn bẩy" chính sách mạnh hơn nữa thì mới có thời cơ "cất cánh" được khỏi mặt đất. Quy định này là quá chặt chịa và không thích hợp với thông lệ quốc tế, khi coi cả các DN thành lập ở Việt Nam có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài trên 49% là NĐT nước ngoài.
Các NĐT nước ngoài mong muốn cùng với việc thực hành cam kết WTO không hạn chế NĐT nước ngoài góp vốn, mua cổ phần hoặc thành lập DN 100% vốn đầu tư nước ngoài và thành lập chi nhánh của nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam kể từ ngày 12/1/2012 thì các NĐT nước ngoài được tự quyết định tỷ lệ sở hữu tùy thuộc vào năng lực "hấp thụ" của các DN Việt Nam.
Tuy nhiên, VBF cho rằng việc phát hành cổ phiếu này cũng không mang lại hiệu quả cho TTCK, cũng như dẫn đến việc cổ phần gặp tình trạng thiếu tính thanh khoản do các NĐT nước ngoài không có quyền xứng với số cổ phiếu họ nắm giữ. Room chật chội.
Đây bản tính là một loại cổ phiếu ưu đãi, không có quyền biểu quyết, dự họp cổ đông, ứng cử, đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Thực tế ở nhiều nước cho thấy các NĐT không mấy quan hoài tới loại cổ phần này, nếu có thì thường được giao du với tỷ lệ chiết khấu cao hơn so với cổ phần phổ biến.
Giải pháp này giúp DN không phải phát hành một loại cổ phiếu riêng biệt và có bất kỳ sự thay đổi nào về vốn chủ sở hữu mà vẫn có được sự tham gia của NĐT nước ngoài mới.
Bên cạnh đó, còn có tác động tích cực đối với ngân sách quốc gia và mang tới nguồn doanh thu thuế cao hơn thông qua các loại phí giao tiếp, thuế từ việc đầu tư chứng khoán, cũng như đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa.
Một mặt, giải pháp này góp phần đẩy mạnh việc lôi cuốn vốn từ NĐT nước ngoài, cải thiện tính thanh khoản của thị trường và song song giảm phí vốn của DN. Theo nhóm Diễn đàn DN Việt Nam (VBF), quy định này sẽ không tăng thêm tính thanh khoản cho TTCK, không giải quyết được việc DN bị định giá dưới giá trị tiềm năng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét