Đặc biệt, tỷ lệ lạm phát CPI (hoặc giảm phát) và đầu tư ròng (hoặc đóng góp tăng trưởng vốn) rất thấp phối hợp với thực chất nền kinh tế đóng cửa và tình trạng dân số già, là nguyên cớ cốt cho sự giảm tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản
Phản ứng chậm đối với các vấn đề ở khu vực ngân hàng trong eurozone cũng là điểm then chốt dẫn đến suy thoái dài hạn. Kinh nghiệm của Nhật Bản năm thập niên 1990 cho thấy thậm chí những nền kinh tế phát triển, vốn có những phương tiện chính sách quan trọng để không sảy chân rơi vào khủng hoảng nhà băng, cũng có thể phải vật lộn để tránh suy thoái dài.
Các yếu tố dẫn đến “Nhật Bản hóa” “Nhật Bản hóa” đại diện cho một thời kỳ suy thoái sâu và kéo dài nối tiếp sự sụp đổ của bong bóng tài sản.
Phương pháp phân tách có một số cải tiến: dựa trên đầu tư ròng thay vì tổng đầu tư, các tham số bình phương biểu diễn tỉ lệ lạm phát CPI và thành phần dân số già.
Một nguyên tố nữa là giá bất động sản, cổ phiếu giảm đáng kể nhưng hàng hóa giảm giá vừa phải nhưng liên tục và GDP danh nghĩa không tăng. Mức tín dụng nội địa cao tương quan với GDP trong thời đoạn tiền khủng hoảng làm tăng thêm nguy cơ. Từ triển vọng này, các chính sách kinh tế vĩ mô và thận trọng vĩ mô (marcoprudential) có thể ngăn chặn bong bóng giá tài sản.
Trong phép so sánh này, diễn tả kinh tế của Nhật nổi bật hơn ở một số điểm. Mặc dù chính sách nâng giá đồng yên vào giữa thập niên 1990 có thể đã gây tác động bị động đến tăng trưởng, các phân tích quy hồi đã không tìm thấy những tác động bị động của tỷ giá hối đoái cho sự phát triển.
Có thể nói trải nghiệm của Nhật Bản tương tự các quốc gia châu Á bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khủng hoảng tài chính: Indonesia, Hàn quốc, Malaysia,và Thái Lan. Thiếu sự thúc bách khi đưa ra chính sách, thêm vào là tổng tiền hà tiện trong nước lớn cũng như dự trữ ngoại hối và gói kích thích tài chính lớn là một lỗi nghiêm trọng. Ngân hàng phát triển châu Á công bố nghiên cứu về các đặc tính của “Nhật Bản hóa” và các yếu tố khã dĩ gây ra nguy cơ này.
Thứ hai , đóng góp của tăng trưởng tổng vốn cho tăng trưởng GDP thực tiễn khá lớn so với nhóm nước OECD vào thập niên 1990, tuy nhiên lại suy giảm xuống mức rất thấp vào năm 2000. Đóng góp phát triển từ tổng lượng vốn cũng thấp hơn so với Nhật Bản. ADB cho rằng các phản ứng chưa thỏa đáng của nhà băng Trung ương Nhật Bản và các nhà chuyên trách là nhân tố mấu chốt. Từ đó dẫn đến khủng hoảng nhà băng trên quy mô lớn.
Quá trình “Nhật Bản hóa” càng trầm trọng hơn bởi tốc độ già hóa dân số nhanh. Song song, ADB làm các phép so sánh với những giang san khác đã từng sang khủng hoảng nhà băng trong thập niên 1990, tiến hành phân tách các thuộc toán kinh tế của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăn trưởng dài hạn, cũng như đưa ra các lời khuyên để các nước có nguy cơ cao có thể tránh bị “Nhật Bản hóa”.
Suy thoái kinh tế hàm chứa hệ quả giảm thiên hướng tăng trưởng GDP, tăng chậm hoặc không tăng tỷ lệ tổng vốn so với GDP, suy giảm tỷ lệ lãi suất ngắn và dài hạn, và tăng đáng kể tỷ lệ nợ công so với GDP. Kết quả cho thấy tổng vốn, tỷ lệ lạm phát CPI, mở cửa kinh tế được đo bởi số tiền đầu tư FDI chảy vào trong nước như tỷ lệ GDP, và tỷ trọng dân số già (65 tuổi trở lên) trên tổng dân số là những nguyên tố quyết định của tăng trưởng GDP thực tế theo đầu người.
Đây là tỷ lệ khá cao so với nhóm nước trong OECD, và cao hơn nhiều so với những nước mới nổi của châu Á có thu nhập bình quân theo đầu người thấp hơn nhiều
Bởi ở đây các nhà chức trách được mặc định đã có đủ dụng cụ chính sách để đẩy lùi khủng hoảng ngân hàng và giải quyết các vấn đề kinh tế. Tuy nhiên “Nhật Bản hóa” là một hiện tượng gây kinh ngạc được quan sát ở nền kinh tế thị trường đã chín mùi.
Một thời kỳ suy thoái kinh tế dài trong thời điểm không chiến tranh là sự kiện không mới, đặc biệt ở những nước đang phát triển; “thập kỷ mất mát” của châu Mỹ Latinh vào thập niên 1980 chỉ là một ví dụ.
Song, một khi bong bóng được thổi phồng lên và sau đó nổ thì chính sách tốt thứ hai là nhanh chóng giảm thiểu nhanh ảnh hưởng bị động của sự sụp đổ như vậy vào ngành nhà băng và bít tất hoạt động kinh tế phê duyệt chính sách điều tiêt tiền tệ.
Thứ ba, tỷ lệ tín dụng nội địa so với GDP cao hơn trong phép so sánh với các nước trong OECD, và cao hơn mức bình thường của các nền kinh tế mới nổi, nhưng đã giảm xuống thất thường vào những năm 2000. So sánh với những nước trải qua khủng hoảng nhà băng thập niên 1990 ADB đã làm phép so sánh những trải nghiệm của Nhật Bản với một vài quốc gia xảy ra khủng hoảng nhà băng vào thập niên 1990.
“Hai thập kỷ mất mát” của Nhật Bản là minh chứng rất điển hình cho nhận định trên, và kinh nghiệm đó đã được tóm gọn và chuyển hóa thành những thuật ngữ như “suy thoái kiểu Nhật” hay “Nhật Bản hóa”. Về mặt têu cực, lạm phát CPI thấp và giảm đầu tư ròng sau thời kỳ khủng hoảng tài chính dấy lên nguy cơ “Nhật bản hóa”.
Dân số già có thể là một yếu tố bị động cho sự phát triển của các nền kinh tế phát triển, đơn cử như Đức và Ý, nhưng không tác động đáng kể đến Anh và Mỹ.
Đặc biệt, đóng góp từ tổng vốn giảm mạnh vào những năm 2000 ở Nhật hay các nước châu Á khác, trình bày rõ ở vốn ròng thấp hơn, trái ngược với các nước trong OECD hay các nước Mỹ La tinh.
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khả năng hồi phục kinh tế ở các quốc gia châu Âu và Mỹ đã chậm lại, dấy lên mối lo ngại về sự đình trệ lâu dài.
Một nghiên cứu mới đây của ADB cho hay: Khả năng hồi phục kinh tế từ những cuộc khủng hoảng nhà băng có thể kém hơn và mất thời gian hơn so với bình phục từ những đợt suy thoái sâu truyền thống.
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng bình quân GDP trên đầu người của Nhật trong những năm 1980 là 4%/năm. Một số nguyên tố khác dẫn đến “Nhật Bản hóa” đó là phản ứng của các chính sách kinh tế vĩ mô chưa đầy đủ, tái cấu trúc ngành nhà băng bị bê trệ, mức đầu tư từ doanh nghiệp thấp, mất khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực công nghiệp, tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng (TFP) chậm lại và dân số già.
Nguồn Economywatch/Dân Việt. Thứ tư , giá nhà làng nhàng đã giảm suốt hai thập kỷ 1990 và 2000. Phân tích thuộc toán kinh tế Các phân tách thuộc toán kinh tế của ADB nhằm mục đích nhận dạng các yếu tố quyết định của tăng trưởng GDP thực tại theo đầu người.
Từ đó cho thấy cỗi nguồn của hiện tượng “Nhật Bản hóa” có một phần nguyên do bởi mô hình tăng trưởng đầu tư do khu vực nhà băng cấp vốn. Giải pháp tốt nhất trước tiên để tránh được các kiểu kinh tế bê trễ mà Nhật đã qua đó là ngăn chặn hiện tượng bong bóng bằng cách hâm nóng kinh tế, tăng trưởng tín dụng, đầu tư quá nhiều vào các tài sản cố định và đầu cơ thị trường tài sản.
Nguy cơ “Nhật Bản hóa” và biện pháp phòng tránh Vấn đề đặt ra là liệu Mỹ và một số nền kinh tế khu vực eurozone vừa sang trọng khủng hoảng tài chính (đặc biệt lĩnh vực ngân hàng) quy mô lớn sẽ đối mặt với rủi ro trì tệ kinh tế dài hạn ra sao? Về mặt tích cực, trường hợp khủng hoảng của Mỹ, Anh và Ý chứng tỏ tỷ lệ tăng trưởng GDP làng nhàng theo đầu người trước khủng hoảng toàn cầu thấp hơn Nhật Bản, nghiêng ngả từ 1,2% ở Ý tới 2,5% ở Anh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét