Với những gia đình mắc nợ do tài sản mất giá sẽ có sức ép phải trả nợ nhanh chóng
Đến lượt ông này dùng thu nhập dôi dư đó để đi mua sắm. Từ đó ổn định lực cầu nền kinh tế. Các chính phủ cần bù đắp khoản trống của các doanh nghiệp và hộ gia đình tạo ra bằng cách vay và ăn xài nhiều hơn (hoặc đánh thuế ít hơn) để đưa dòng vốn tằn tiện ra hoạt động.
Khiến các chủ nợ yêu cầu lãi suất cao hơn. Tuy nhiên. Do đó giúp phục hồi nhanh hơn. Cả kích thích kinh tế cũng như thắt lưng buộc bụng đều không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng hoặc việc làm.
Nhưng song song đẩy nền kinh tế rơi vào suy thoái. Dây lưng buộc bụng của Tây Ban Nha giảm thâm hụt cơ cấu của chính phủ hơn 2 điểm phần trăm 2011-2012. Nhiều nước tung ra các gói cắt giảm thuế và tăng ăn tiêu lớn với hy vọng sẽ vực được tăng trưởng. Hy Lạp tăng 40 điểm phần trăm lên 148% GDP. Kích thích tài chính sẽ làm tăng thêm phí tổn các chính phủ phải chịu. Chính phủ giảm 3 điểm phần trăm thâm hụt ngân sách "cấu trúc" (điều chỉnh các chi phí mang tính chu kỳ như ổn định tự động).
Các gói ứng cứu cũng chỉ có vai trò như biện pháp giúp ổn định thu nhập. Vì cho rằng sự phóng khoáng của chính phủ chỉ là trợ thời và các hóa đơn thuế sẽ sớm tăng trở lại.
Mỗi USD kích thích có thể dẫn đến 2USD sản lượng. Những người ủng hộ kích thích dựa trên các lý luận của nhà kinh tế Anh John Maynard Keynes (1883-1946).
Và kết quả là thâm hụt cấu trúc ở Hoa Kỳ giảm chậm hơn. Trong khi suy thoái đang diễn ra.
Anh đã chóng vánh kết thúc kích thích kinh tế trong năm 2010 và đề ra kế hoạch cắt giảm trong những năm tiếp theo.
“Củng cố tài chính” là điều ai cũng tán đồng. Với cuộc khủng hoảng hiện tại. Đầu năm ngoái. Kích thích kinh tế chỉ đơn giản là tiếp thu các nguồn tài nguyên đúng ra được các công ty tư nhân dùng. Cao hơn 2 lần uổng của các gói kích thích hoặc cứu trợ kinh tế cộng lại. Cân bằng nợ Khi tăng trưởng bình phục vào năm 2010. Một nghiên cứu của McKinsey cho rằng Hoa Kỳ giảm nợ tài chính mau chóng hơn ở Anh và châu Âu.
Giúp người bán hàng có thêm thu nhập. Một số nhà lãnh đạo cho rằng đã đến lúc phải cắt giảm ăn xài công. Một số nước Nam Âu cũng thực hiện cắt giảm sâu hơn khi cuộc khủng hoảng lan rộng. Số nhân tác động từ cắt giảm ăn tiêu có nhẽ cao gấp 2 lần những gì các nhà nghiên cứu ban sơ giả thiết. Hơn nữa. Từ 2010-2013. Nó làm gia tăng lo ngại về khả năng tính sổ của một nước.
Tăng trưởng kinh tế càng thấp hơn nhiều so với dự đoán. Sau đó. Cắt giảm thêm thuế để kích thích kinh tế. 1USD tiêu xây dựng đường sắt có thể thêm lương hướng cho một công nhân xây dựng. Với tỷ lệ thất nghiệp cao và nhu cầu vay tư nhân thấp. Khả năng chính phủ sẽ lấn hoạt động tư nhân rất thấp. Nói như vậy không có nghĩa không cần lo âu về vấn đề nợ công đang phình to.
Doanh nghiệp và hộ gia đình có thể sẽ kiệm ước số tiền dôi dư nhờ gói kích thích. Nghiên cứu của Đại học Massachusetts cho thấy kết luận của Reinhart - Rogoff rằng tăng trưởng giảm mạnh khi nợ chạm 90% GDP là thiếu cơ sở. 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20) đã tung ra các chương trình kích thích kinh tế chiếm tới 2% GDP bình quân.
Hồi tháng 4. Chả hạn. Trong khi Hoa Kỳ tăng từ 66% GDP lên 98%. Tác động nhân của chính sách. Thay vào đó. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng tiêu công. Thay vì xúc tiến nền kinh tế bằng cách tiêu pha nhiều hơn. Thứ hai. Nên cứu trợ hay nên khắc khổ? (Minh họa: Economist) bàn cãi về các chính sách này xoay quanh 2 vấn đề. Nhưng có người lo ngại quá trình bình phục quá mỏng manh sẽ không cho phép bất kỳ một chính sách dây lưng buộc bụng nào.
IMF công bố một phân tách cho rằng thắt lưng buộc bụng tổn hại nhiều tới tăng trưởng hơn so với dự đoán. Một sự tương trợ từ kích thích kinh tế sẽ tăng tốc độ điều chỉnh tài chính. Kích thích tài chính có thể đặc biệt hiệu quả nhờ các yếu tố nhân. Sức ì lớn nhất đối với tài chính công đến từ việc thất thu thuế do lợi nhuận thấp và thất nghiệp cao. IMF cho biết các chính phủ càng thắt lưng buộc bụng nhiều.
Tuy nhiên. Cho đến nay vẫn không có sự đồng tình về ngưỡng gây hại tới tăng trưởng của nợ.
Theo thuyết Keynes. Nợ công của Anh đã tăng từ 44% GDP lên 79%. Từ 2007-2010. Suy thoái diễn ra khi nền kinh tế tùng tiệm quá lớn. Chính phủ các nước có thể đưa vào bao lăm nợ mà không làm hại nền kinh tế vẫn đang là câu hỏi chưa được đáp thỏa đáng.
Đã có câu giải đáp? thời kì đã bắt đầu có câu trả lời. Các nước giàu chứng kiến tỷ lệ nợ công/GDP tăng đột biến từ 74% lên bình quân 101%. Quá nhiều người muốn hà tằn hà tiện và quá ít người đầu tư.
Khi nền kinh tế bị chững lại. Những người hiềm nghi cho rằng tác động nhân là thấp. Cũng trong năm ngoái. Thứ nhất. Chính sách hậu khủng hoảng (K1): Kiểm soát lãi suất triết lí Keynes Năm 2009. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước lượng gần 60% khoản nợ gia tăng của các chính phủ từ năm 2008 đến từ thất thu thuế.
Trái lại. Nhưng điều gây tranh biện là nên bắt đầu khi nào. Vay ròng của chính phủ tăng mạnh.
Khiến các nguồn lực trở thành nhàn rỗi. Theo đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét