Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Ngành than cần phải còn rất nóng “thay máu".

Thứ sáu

Ngành than cần phải “thay máu

Có giám đốc còn không tìm thấy tên của đơn vị mình. “Cung” lại độc quyền như VINACOMIN. Nhưng chừng độ xử lí khác nhau. Nhưng cũng không được hỏi quan điểm.

Đối với các đơn vị thành viên. Hay xin miễn/giảm thuế của VINACOMIN đang góp phần làm cho các cân đối lớn của Chính phủ (về giá điện và về thu ngân sách) bị phá vỡ. Bây giờ. Và điện NK. Thì hệ quả đối với ngành than nói riêng. Chả hạn như nhiệm vụ chính trị được giao quá lớn.

Năng lượng tái tạo. Trong khi đó. Vận chuyển đất đá. Trữ lượng than không còn nhiều. Nhập than từ đâu? Với giá bao nhiêu? Nhập như thế nào. Có thị trường (“cầu”) lâu dài và rất lớn là điều kiện rất tiện lợi cho sản xuất kinh dinh.

Trong đó. Thứ năm. Máy liên hiệp đào lò (Combine). Nói “khủng hoảng nghiêm trọng” là khủng hoảng mang tính “hệ thống” và “cơ cấu”. Tỉ dụ trên thế giới. Ông đã từng lưu ý rằng. Phần nhiều các mỏ đang trong tình trạng “ăn đong” về trữ lượng than.

Với trữ lượng như vậy. Vậy theo ông “con đường sống” của ngành than là gì? Ngành than đã có cơ hội để thoát ra khỏi đường hầm. Lương Bằng (thực hành). Đó là tái cơ cấu thực sự theo ý thức quyết nghị của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra.

Bất cập trong tổ chức sản xuất. Khen thưởng cứ vào “lượng” chứ không phải “chất”. Ngành than đang tồn tại 4 mâu thuẫn và 6 bất cập lớn. Bố trí thì rất ngẫu hứng. Các dự án cơ giới hóa đồng bộ phá hoang than (VINAALTA). Vẫn như cũ. Bất cập về công nghệ. VINACOMIN sẽ không phát triển được. Nhưng tư duy phát triển dựa vào việc nâng giá than cấp cho điện.

Sản lượng khẩn hoang tối đa của VINACOMIN chỉ 40-50 triệu tấn/năm. Các tác giả của đề án muốn “đổi mới” nhưng không có nhu cầu “đổi ghế”. Việc ngành than được “nắm giữ tài nguyên rất lớn của sơn hà” là do cơ chế. Thứ bảy. Nhưng. Thứ ba. Đề án này. Nhu cầu nâng cao sản lượng khẩn hoang than đang mâu thuẫn với trữ lượng than có thể khai thác được ở các mỏ càng ngày càng giảm nhanh.

Đào lò. Nhiều đơn vị. Còn tại sao “việc khai khẩn lại chưa hiệu quả” chỉ có ngành than mới hiểu được. Giá bán than càng cao). Còn về nội dung. An ninh năng lượng của Việt Nam phụ thuộc vào: Than NK. Nhiệm vụ chính trị được giao quá lớn đang mâu thuẫn với năng lực tư duy còn hạn chế. Công tác R-D do VINACOMIN “chỉ đạo” trực tiếp lại rất kém hiệu quả.

Không phải “lỗi” của ngành than. Việc NK than có rủi ro cao nhất. Nhưng đòi hỏi này đang mâu thuẫn với việc VINACOMIN “mẹ” vẫn ứng dụng “kế hoạch phối hợp kinh doanh” để duy trì cơ chế “xin-cho” của nhóm ích dựa vào than XK để “phân bổ” các chỉ tiêu hiệu quả.

Hệ quả đối với bản thân ngành than không đáng kể (sản lượng than càng thấp. Tuy là “thành viên” lại có địa vị pháp lí “cùng mâm” với VINACOMIN theo Luật Doanh nghiệp.

Trong 18 năm qua. Không xử lí được bất cập. Còn việc ngành than phát triển bauxite Tây Nguyên hay sắt Thạch Khê là hoàn toàn không dựa trên thế mạnh mấu chốt của mình.

Vậy ý kiến của ông như thế nào về trách nhiệm của ngành than khi nắm giữ tài nguyên rất lớn của đất nước. Bất cập trong điều hành sinh sản kinh doanh.

Công nghệ vỡ hoang than lộ thiên phải rẻ hơn khai phá than hầm lò. Hiện nay. Thứ tư. Song việc khẩn hoang lại chưa hiệu quả? Thực ra. Điều hành sinh sản kinh dinh nhiều bất cập. Khủng hoảng xảy ra khi xuất hiện các mất cân đối (mâu thuẫn và bất cập). Bất cập về vai trò của “mẹ” trong R-D (nghiên cứu-khai triển).

VINACOMIN có nhiệm vụ chính trị là “tham gia các cân đối lớn của Chính phủ”. Tụ hợp thêm nhiều gánh nặng (quyền lực) vào “mẹ”. Nhu cầu than cho phát điện theo Quy hoạch của ngành điện (đã được duyệt y) rất lớn. Cách soạn thảo đề án tái cơ cấu còn vi phạm dân chủ. Thủy điện. Sàng tuyển. ? Đây không phải là chuyện đơn giản đối với Việt Nam. Hiện VINACOMIN đang có khuynh hướng ngược lại: Công nghệ hầm lò rẻ hơn lộ thiên.

Ông có thể cho biết dựa trên cơ sở nào ông nhận định như vậy? Với một tập đoàn lớn như VINACOMIN.

Chỉ vài mỏ còn “thọ” thêm được 30 năm nữa. Chế biến. Mâu thuẫn giữa “nhu cầu” và “khả năng” phát triển. Trong ngành than chưa có giám đốc điều hành nào được tuyển dụng theo tiêu chuẩn thị trường (trình độ giỏi và hiệu quả cao).

Công tác cán bộ là duyên do của mọi duyên cớ. Hiệu quả của khai hoang than chỉ phụ thuộc vào con người (cán bộ điều hành). Đề án tái cơ cấu mà VINACOMIN đang tích cực khai triển được soạn thảo bởi một số người không mấy hiểu về đặc thù của công tác tổ chức sản xuất trong ngành khai khoáng và không dựa trên đánh giá hiện trạng của VINACOMIN một cách khách quan.

Nhưng phải tái cơ cấu đích thực theo kiểu phải “thay máu”. Tổng trữ lượng than của VINACOMIN hiện chỉ còn khoảng 2 tỷ tấn.

Rất tiếc. ) Lại đang được tổ chức phân tán và cục bộ để không ảnh hưởng đến “ghế” đã có sẵn hoặc quyền lợi đã được chia. Thứ mười. Nếu không phát triển được. Với sơn hà nói chung sẽ là gì. Khuyết điểm như nhau. Sau khi đề án được duyệt. Mâu thuẫn giữa “nội dung” và “hình thức”: Lực lượng sản xuất của VINACOMIN đã phát triển nhanh trong khi mô hình tổ chức càng ngày càng lạc hậu.

“Cầu” lớn hơn “cung”. Đó là một sai lầm và bất cập lớn của ngành than. Đề án được soạn thảo bí ẩn tới mức giám đốc các đơn vị thành viên còn không được biết gì. Thưa ông? Nếu không hóa giải được mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa “lượng” và “chất” trong phát triển. Chúng ta có thể hy vọng cuộc tái cơ cấu mà Vinacomin đang thực hiện sẽ đưa ngành than thoát khỏi vũng lầy đang gặp phải. Thì không có hiệu quả mới lạ.

Đối với một ngành kinh tế. Thứ chín. Dù đã hình thành một lĩnh vực sinh sản hoàn toàn mới đó là sản xuất điện nhưng mô hình tổ chức của VINACOMIN.

Bất cập về điều kiện phát triển. Chỉ tạo ra thêm “vũng lầy” cho các “con” và cho cả ngành than. Nếu không hóa giải được các mâu thuẫn và bất cập mà ngành than đang phải đối mặt. Nhưng. Bất cập về mô hình tăng trưởng. Quy hoạch cán bộ có vẻ bài bản. Xin cảm ơn ông! TS. Thứ tám. Sau thời Bộ Mỏ và Than đến nay. Thường. Băng tải ống (Mạo Khê).

Thứ hai. Về căn bản. Chẳng hạn là một “quả đấm thép” của nền kinh tế. “Cử” nhiều. Thưa ông? Hoàn toàn không. VINACOMIN phát triển rất nhanh về lượng. Khí hóa lỏng NK. Cơ cấu sản phẩm càng ngày càng xuống cấp.

Nguyễn Thành Sơn: 4 mâu thuẫn và 6 bất cập của ngành than Thứ nhất. Cùng với việc củng cố cơ chế “xin-cho”. Chứ không theo kiểu đối phó. Hệ quả đối với nền kinh tế là nghiêm trọng. Đối với tập đoàn- công ty “mẹ”. Nhiều lĩnh vực cần được chuyên môn hóa để nâng cao hiệu quả chung toàn ngành (như tải than nguyên khai. Những bất cập và mâu thuẫn nói trên đều là con đường dẫn ngành than Việt Nam đến “thành Rôm” (đường hầm không lối thoát).

Nhưng “lượng” lại không biến thành “chất”. Đang là các “ụ nổi” của Vinacomin. Điện nguyên tử. Việc ngành than phát triển kinh doanh đa ngành sang lĩnh vực nhiệt điện chạy than tại mỏ là đúng và có hiệu quả. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là đòi hỏi cần kíp. Đề bạt thì “thi” ít.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét