Do đó đây là sự chuyển đổi tiêu biểu nhất
Các nhân tố đơn tiết đi sau từ “kẻ” thường bị ngộ nhận là những địa danh “thuần Việt” trong khi mà chúng hồ hết đều là âm xưa của các chữ Hán sở quan. Tình hình cụ thể là như sau: Có 5 trường hợp biểu hiện sự ứng giữa âm đầu âm tiết nôm ch- với âm đầu âm tiết Hán Việt thứ hai là l-. Có thể dạng thức tiền ngôn ngữ của Chèm là *tlèm/*klèm.
Những kiểu tương ứng ấy phản chiếu những biến đổi ngữ âm khá ưa. Đó là âm xưa của chữ “liêm” nên nó cũng không phải là cái tên do chính người Việt cổ đặt ra.
Trần Trí Dõi đã viết như trên còn riêng chúng tôi thì đã viết trên tri thức hiện tại số 229 (01/12/1996): “Cũng xin nói thêm rằng. Về mối quan hệ tr ~ l. Tỉ dụ tên của làng Chèm. Chúng tôi xin trích dẫn ý kiến của tác giả Trần Trí Dõi trong bài “Tiếp tục tìm hiểu về xuất xứ và ý nghĩa trang danh Cổ Loa” để bạn và độc giả tham khảo.
Người ta có quyền nghĩ rằng. Người ta có hàng loạt ví dụ: trộm (nghĩ) ~lạm 濫” (lạm phép = trộm phép); tràn (đầy) ~ lan 瀾 (sóng lớn; dậy sóng; lan ra); (từng)trải ~ lý 履 (= đạp.
Trần Trí Dõi chủ trương tên xưa của Từ Liêm là “Chèm” nên “Chèm” không thể có những nghĩa mà ông Thư đã nêu. Gốc là Trèm. V…”. Còn An Chi thì cho rằng
Nhưng dù theo quan điểm của Trần Trí Dõi hay quan điểm của An Chi thì ông Lê Văn Thư cũng đều sai. Nếu nó thực sự là do người Việt ta đặt ra từ xưa thì tuy ta chưa biết nó có tức thị gì nhưng kiên cố không thể là những nghĩa mà ông Thư đã nêu.
Trước mắt. Học giả An Chi: Chúng tôi rất tiếc là mình chưa có điều kiện để tìm hiểu một cách triệt để về địa danh “Từ Liêm” mà nhiều tác giả cho rằng âm cổ xưa là “Chèm” hay “Trèm” (tên “Chèm” vẫn còn tồn tại cho đến nay). C. Những tên làng nói trên là những tên làng thuộc loại “xưa nhất” của cư dân người Việt”. Cũng chính nhờ sự chuyển đổi này. Nhưng có một điều mà chúng tôi có thể khẳng định một cách kiên cố: Nghĩa của hai chữ “Từ Liêm” mà ông Lê Văn Thư đã nêu là nghĩa của nó trong tiếng Tàu - ta thường gọi là các nhân tố Hán Việt - nên khó lòng có thể là do người Việt đặt ra từ xưa được.
Đây có nhẽ là những tương ứng phản ánh việc chuyển từ ngữ âm thuần Việt sang ngữ âm Hán Việt thường ngày nhất. Chính là âm xưa của chữ liêm 廉ä. Đó là (bảng 2): Bảng 2 Căn cứ vào ứng ngữ âm giữa âm đầu ch- với l- và giữa phần vần của âm tiết nôm với âm tiết Hán Việt thứ hai.
Đi); trội ~ lỗi 磊 (= tài ba); v. A. Có thể chia ra thành những kiểu tương ứng khác nhau giữa âm tiết nôm với âm tiết Hán Việt. Của Chấp là *llấp/*klấp và của Chủ là*tlủ/*klủ. Về hình thức ngữ âm thượng cổ của “Từ Liêm” là “Chèm”. Ngữ âm lịch sử tiếng Việt cho biết rằng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét